Quan huyện Đặng Trọng Lợi có tên đúng như người ta hay đặt tên con với hy vọng lớn lao: Trọng Lợi — coi trọng lợi ích. Người ta đồn rằng tên cũ của ông là Đặng Trọng Đói — đặt bởi ông nội trong thời kỳ khốn khó với hy vọng đời sau sẽ khác — nhưng khi được bổ nhiệm làm huyện quan, ông ta tự đổi tên vì Trọng Đói nghe không oai. Trọng Lợi oai hơn, và phù hợp hơn với phong cách làm quan của ông.
Quan huyện Đặng Trọng Lợi cai quản mười hai làng trong huyện, mỗi làng đều biết mặt ông theo kiểu biết mặt người hay đến đòi tiền: không muốn thấy nhưng cũng không tránh được. Ông hay "vi hành" — tức là đi thăm dân không báo trước — nhưng dân làng thường biết trước vì ông mang theo đoàn tùy tùng năm người, ngựa to, lọng đỏ. "Vi hành" kiểu đó cũng như người ta mặc quần áo màu đỏ bảo đang ẩn hình.
Năm ấy, sau khi nghe chuyện Cú Khoai hỏi về thuế thở ở làng Hạ Mộc, quan huyện cảm thấy tò mò theo cái cách người ta tò mò về một con rắn lạ: vừa muốn xem vừa muốn dẫm cho chết. Ông quyết định vi hành về làng Hạ Mộc.
Sáng hôm đó, đoàn quan năm người, ngựa cao lọng đỏ, oai phong lắm. Đến đầu làng, dân làng nghe tiếng vó ngựa, ai nấy bỏ vào nhà. Không phải trốn mà là "bận việc" — trốn thì nghe không hay, bận việc thì lịch sự hơn.
Trên đường vào làng, đoàn quan đi qua một thửa ruộng ven đường. Một anh nông dân đang cày, trâu già thở phì phò, người đẫm mồ hôi. Quan huyện dừng ngựa lại, nhìn xuống từ trên lưng ngựa cái nhìn của người quen nhìn xuống:
"Thằng kia! Con trâu của mày một ngày cày được bao nhiêu?"
Người nông dân ngẩng đầu lên. Đó là Cú Khoai, đang cày ruộng thuê cho bác Tư đầu xóm. Anh ta nhìn lên quan huyện, nhìn đoàn ngựa, nhìn cái lọng đỏ, rồi khoanh tay cúi đầu cung kính:
"Dạ thưa quan lớn, trâu nhà con già rồi, một ngày chỉ cày được nửa mẫu thôi ạ."
"Ít thế!" Quan huyện nhướng mày, giọng kẻ cả. "Trâu của phủ ta to hơn, khỏe hơn, một ngày cày được một mẫu rưỡi. Trâu mày kém lắm."
"Dạ vâng, trâu của quan lớn tất nhiên phải hơn trâu nhà con ạ." Cú Khoai gật đầu lia lịa. "Con biết điều đó. Chỉ là con tự hỏi tại sao thôi ạ."
"Tại sao? Tại vì trâu của ta được chăm tốt hơn, ăn no hơn, không phải làm quá nhiều. Đương nhiên khỏe hơn rồi."
"Vâng ạ, con hiểu rồi." Cú Khoai đứng thẳng dậy, vẫn khoanh tay lễ phép. "Trâu của quan lớn được ăn no, được ngủ đủ, không phải lo lắng gì. Còn trâu nhà con thì khổ hơn ạ."
"Khổ thế nào?" Quan huyện tò mò hỏi, vì dù sao cũng là người có học, nghe chuyện về trâu thấy lạ.
"Dạ, trâu nhà con cày từ sáng đến tối để nuôi chủ nó." Cú Khoai nhìn xuống đất, giọng thành khẩn. "Nhưng con trâu nhà con biết rằng dù cày cả đời, dù chăm chỉ đến mấy, hết vụ này sang vụ khác, phần lúa to nhất trong cái mà nó cày ra vẫn bị quan thu thuế mang đi. Nên nó buồn lắm ạ. Mà đã buồn thì sức cày giảm là phải, không ăn cũng không ngon, không ngủ cũng không say."
Cả đoàn tùy tùng im lặng như bị đóng đinh. Không ai nhìn ai, không ai nhìn quan huyện, ai cũng chỉ nhìn thẳng về phía trước với vẻ mặt của người đang cố không bật cười.
Quan huyện Đặng Trọng Lợi nhìn Cú Khoai chằm chằm. Ông ta là người thông minh — không thông minh thì không leo lên được chức huyện quan — nên ông hiểu rõ cái thằng nông dân gầy này đang nói về ai. Nhưng cái khó là nó đang nói về trâu. Rõ ràng là trâu. Từng chữ đều là trâu.
"Mày đang nói con trâu hay đang nói cái gì khác?" Ông ta hỏi thẳng, giọng cảnh cáo.
"Dạ con nói con trâu ạ." Cú Khoai nhìn thẳng vào mắt quan huyện bằng đôi mắt trong veo nhất có thể. "Quan lớn hỏi về trâu nhà con cày được bao nhiêu, con trả lời về trâu. Quan lớn hỏi tại sao trâu nhà con cày ít, con giải thích về trâu. Con dám đâu nói gì khác với quan lớn ạ. Con là dân thường, sao dám?"
Khoảng lặng kéo dài. Tiếng gió thổi qua ruộng lúa nghe rõ mồn một. Con trâu già vẫy đuôi đuổi ruồi.
"Hmm." Quan huyện ngồi trên ngựa, nhìn Cú Khoai, không nói thêm được gì. Mọi lời nào ông ta nói ra lúc này đều có thể bị dùng ngược lại. Đánh thằng này vì dám nói trâu buồn? Nghe vô lý. Bắt thằng này vì tội gì? Vì nó giải thích về trâu trả lời đúng câu hỏi của ta? Càng vô lý hơn.
Ông ta giục ngựa đi tiếp, không nói lời nào.
Một người tùy tùng già — người duy nhất dám nói thật đôi khi — ghé lại gần Cú Khoai nói nhỏ khi đoàn quan đi qua: "Anh liều lắm đấy."
"Tôi nói về trâu mà chú," Cú Khoai nhún vai, giọng thật thà. "Trâu nó buồn thật chứ bộ. Chú không tin thì chú hỏi trâu."
Người tùy tùng già lắc đầu cười, giục ngựa đi theo đoàn. Cú Khoai nhìn theo đoàn quan đi khuất, rồi quay lại nhìn con trâu già đang thở phì phò trong nắng trưa.
"Mày thông cảm nghe," anh ta nói với con trâu, vỗ nhẹ vào lưng nó. "Tao mượn mày một chút. Không phải tao tội nghiệp mày đâu, tao biết mày cũng hiểu chuyện vậy mà."
Con trâu già nhìn anh ta bằng cặp mắt to và không biểu cảm, vẫy đuôi một cái.
Tối hôm đó, chuyện Cú Khoai nói trâu buồn vì thuế lan ra khắp làng trước khi trời tối. Xóm trên xóm dưới đều biết. Người già nghe thì thở dài gật đầu — đúng quá mà nào dám nói. Người trẻ nghe thì cười sặc sụa. Mấy ông hay tụ tập uống rượu chiều tối thì nói: "Thằng Cú nó nói hay đấy, nhưng liều thật. Lỡ ông quan không phân biệt được đang nói về trâu hay người thì sao?"
Cú Khoai uống miếng nước, nhìn mấy ông đó: "Thì cũng không sao. Vì nếu ông quan không phân biệt được, có nghĩa là ông quan cũng nghĩ trâu và người giống nhau. Mà nghĩ vậy là của ông quan, không phải của tôi."
Mấy ông già ngồi im. Rồi một ông bật cười. Rồi tất cả cùng cười.
Đêm hôm đó, bác Củ ngồi ngoài hiên nhìn trăng, bảo vợ: "Thằng Cú nó hay thật. Chỉ sợ nó hay quá thì khổ."
Bà Củ khâu vá dưới đèn dầu, không nhìn lên: "Khổ hay không chưa biết. Nhưng cứ để nó sống kiểu nó thích đi. Cái gì của nó, nó biết hơn mình."
Bác Củ không nói thêm. Ông ta nhìn lên trăng và nghĩ về con trâu già của nhà Tư đầu xóm, rồi không biết sao lại nghĩ về mình.