Lại Tam bước tới thêm một bước nữa.
Con đường đất hẹp, một bên là bụi tre rậm rạp, một bên là con mương dẫn nước ra ruộng. Không có chỗ nào để chạy. Phía sau lưng Tô Niệm là cây long não và dòng sông, phía trước là gã đàn ông vai u thịt bắp với vết sẹo dài trên mặt.
– Không cần đâu. – Cô nghe thấy giọng mình nói, bình tĩnh đến mức chính cô cũng ngạc nhiên. – Gùi toàn hoàng tinh với cát cánh, nặng gì đâu. Anh Lại cứ đi trước đi.
– Chị Kiến Quốc khách sáo quá. – Lại Tam cười, để lộ hàm răng vàng khè vì thuốc lá. – Người một thôn với nhau cả. Hơn nữa, chị vừa ngã sông xong, sức khỏe chưa hồi phục, em thấy mà xót.
Hắn nhấn mạnh hai chữ “ngã sông”, đôi mắt ti hí dán chặt vào cô, như con chó đang ngửi mùi con mồi.
Tô Niệm cảm thấy lòng bàn tay mình rịn mồ hôi lạnh. Cô biết rõ, chỉ cần để hắn chạm vào cái gùi, chỉ cần hắn lật lớp lá cát cánh héo lên, mọi thứ sẽ kết thúc. Cuốn sổ của Lâm lão Tam, bằng chứng duy nhất của hai năm chờ đợi, sẽ biến mất. Và cô cũng vậy.
Cô siết chặt cán cuốc nhỏ trong tay. Đó là thứ vũ khí duy nhất cô có. Nhưng cô cũng biết, với sức vóc của thân thể này, đánh nhau với Lại Tam chẳng khác gì lấy trứng chọi đá.
Phải nghĩ. Phải nghĩ thật nhanh.
– Anh Lại, – Tô Niệm bỗng mỉm cười, – anh tốt bụng như thế, hay là xách giúp em luôn cái gùi này ra trạm thu mua của trấn đi? Em vừa bán được sáu đồng bảy hào ở đấy. Ông thu mua bảo, hôm nay ông ấy còn thu đến tối, vì mai rằm đóng cửa. Em còn mấy cân cát cánh chưa bán, đang định quay lại đây.
Lại Tam khựng lại.
Cô nói rất to, cố ý cho giọng mình vang xa. Và cô nói sáu đồng bảy hào. Một con số đủ để bất cứ ai ở thôn Thanh Khê nghe thấy cũng phải dỏng tai lên.
Đúng như cô mong đợi, từ phía con đường dẫn ra ruộng lúa, có tiếng người vọng lại:
– Sáu đồng bảy hào? Đứa nào mà giỏi thế?
Một nhóm bốn, năm người đàn ông vác liềm, gánh lúa đi tới, người dẫn đầu là một ông chừng năm mươi tuổi, vạm vỡ, mặt đỏ au vì nắng, tay cầm cái đèn bão. Ký ức của Tú Vân nhận ra ngay: đội trưởng đội sản xuất số hai, Tôn Đại Hữu.
Lại Tam lập tức lùi lại một bước, hai tay lại đút vào túi quần như chưa từng có chuyện gì.
– Đội trưởng Tôn. – Tô Niệm gọi, giọng hơi run, nửa thật nửa diễn. – Cháu là vợ Kiến Quốc đây ạ.
– À, con dâu nhà họ Thẩm. – Đội trưởng Tôn giơ đèn lên soi, nhíu mày. – Ơ, thằng Hắc Cẩu cũng ở đây à? Mày không ở lò gạch, ra đây làm gì?
– Em đi ngang qua, thấy chị Kiến Quốc gùi nặng, định xách giúp. – Lại Tam cười hề hề. – Thôi, có đội trưởng đây rồi, em về trước.
Hắn quay người bỏ đi. Nhưng khi đi ngang qua Tô Niệm, hắn hơi nghiêng đầu, thì thào chỉ đủ cho cô nghe thấy:
– Chị dâu may đấy. Nhưng không phải lúc nào cũng may đâu.
Tô Niệm đứng chết lặng, nhìn theo cái bóng đen thấp đậm khuất dần trong màn sương chiều.
* * *
– Con bé này, – đội trưởng Tôn lắc đầu, – mới ốm dậy đã lên núi đào thuốc. Thật bán được sáu đồng bảy hào à?
– Dạ thật. – Tô Niệm gượng cười, đưa cho ông xem nắm lá cát cánh héo. – Hoàng tinh năm hào một cân, cát cánh hai hào. Trên núi Đông còn nhiều lắm bác ạ, chỉ có điều phải biết chỗ mà đào.
Mấy người đàn ông phía sau xôn xao cả lên. Sáu đồng bảy hào, một ngày, gần bằng nửa tháng lương ở lò gạch.
Đội trưởng Tôn nhìn cô với ánh mắt khác hẳn. Ông là người thực tế, cả đời chỉ lo làm sao cho đội mình đủ ăn. Ông nhớ đến Lâm lão Tam, người trước đây từng là tổ trưởng giỏi nhất đội ông, trước khi bị điều sang lò gạch.
– Con bé này giống cha nó. – Ông lẩm bẩm. – Đi, bác đưa con về. Trời tối rồi, đường này vắng.
Họ cùng nhau đi về phía thôn. Đến khúc ngoặt cạnh trường tiểu học của thôn, nơi chỉ có hai gian nhà gạch mái ngói và một khoảng sân đất có cột cờ, thì từ trong sân trường, một bóng người dắt xe đạp bước ra.
Người ấy chừng hai mươi tám, hai mươi chín tuổi, dáng người cao gầy, đeo kính gọng đen, mặc chiếc áo đại cán màu xám tro đã cũ nhưng là phẳng phiu, túi áo trước ngực cài một cây bút máy. Trên gác-ba-ga xe đạp buộc một chiếc cặp da.
Đội trưởng Tôn reo lên:
– Ơ, thầy Chu! Thầy về từ bao giờ thế?
Tô Niệm khựng lại.
Người đàn ông đeo kính quay đầu. Dưới ánh đèn bão, Tô Niệm thấy rõ gương mặt anh ta: thư sinh, nho nhã, đôi mắt sau cặp kính vừa thông minh vừa có chút u buồn. Khi nhìn thấy cô, ánh mắt ấy sững lại, rồi lóe lên một tia sáng mà cô không đọc được là gì. Kinh ngạc? Nhẹ nhõm? Hay là lo lắng?
Chu Minh Viễn.
Người đàn ông mà bốn mươi ba năm nay, cả thôn Thanh Khê vẫn kể rằng đã cùng bà ngoại cô bỏ trốn trong đêm Trung thu.
* * *
– Chào đội trưởng Tôn. – Chu Minh Viễn mỉm cười, bắt tay đội trưởng. – Tôi về chiều nay. Đi theo đoàn kiểm tra an toàn lao động của huyện, mai xuống lò gạch công xã. Đoàn ở nhà khách công xã, tôi xin phép về thăm trường cũ một chút.
– Đoàn kiểm tra? – Đội trưởng Tôn ngạc nhiên. – Kiểm tra lò gạch à?
– Vâng. Năm ngoái tỉnh có chỉ thị, các cơ sở sản xuất từng xảy ra tai nạn chết người đều phải kiểm tra lại. – Chu Minh Viễn nói, giọng ôn tồn, nhưng Tô Niệm để ý thấy, khi nói đến bốn chữ “tai nạn chết người”, anh ta liếc nhanh về phía cô.
Đội trưởng Tôn gật gù, rồi như nhớ ra điều gì, quay sang chỉ Tô Niệm:
– Thầy còn nhớ không, đây là con gái lão Tam đấy. Hồi trước thầy dạy chữ cho nó ở lớp xóa mù chữ ban đêm.
– Tôi nhớ. – Chu Minh Viễn nói, nhìn thẳng vào cô. – Chào cô, Tú Vân.
– Chào thầy Chu. – Tô Niệm khẽ đáp.
Một khoảng lặng ngắn ngủi, căng như dây đàn.
Đội trưởng Tôn có vẻ không nhận ra điều gì bất thường, ông còn mải hỏi chuyện huyện, chuyện giá phân bón, chuyện năm nay có được tăng chỉ tiêu bán lương thực không. Chu Minh Viễn trả lời từng câu một cách nhẫn nại. Rồi đúng lúc ấy, một trong mấy người đàn ông đi cùng đội trưởng gọi ông lại bàn chuyện sân phơi lúa ngày mai.
Đội trưởng Tôn vừa bước ra xa vài bước, Chu Minh Viễn đã hạ giọng, nói rất nhanh:
– Cô có sao không? Tôi nghe người ta nói cô ngã sông.
– Tôi không sao. – Tô Niệm đáp, cảnh giác.
– Thư tôi gửi, – anh ta nói gấp, – cô nhận được chứ? Tiền và vé xe nữa?
Tô Niệm không trả lời ngay. Cô nhìn anh ta, cố gắng đọc gương mặt kia. Người này có thật sự là người mà Lâm lão Tam tin tưởng? Hay là một kẻ khác, với một mục đích khác?
Bức thư dưới tấm phản viết: “Tuyệt đối đừng để ai biết, kể cả Kiến Quốc.” Một người có lương tâm, sao lại bảo một người vợ giấu chồng mình?
– Tôi nhận được. – Cuối cùng, cô nói.
Chu Minh Viễn thở phào nhẹ nhõm.
– Vậy thì tốt. Ngày mười sáu, chuyến xe bảy giờ sáng. Tôi sẽ đợi cô ở bến xe huyện. – Anh ta nhìn quanh, giọng càng thấp hơn. – Đoàn kiểm tra lần này chỉ là cái cớ. Tôi đã báo cáo lên Viện kiểm sát huyện. Chỉ cần có thứ cô đang giữ, cộng thêm lời khai của cô, bọn họ không chối được nữa.
Ngày mười sáu, bến xe huyện.
Không phải đêm Trung thu. Không phải giờ Tý. Không phải bến đò cây long não.
Tô Niệm cảm thấy có thứ gì đó lạnh buốt chạy dọc sống lưng.
– Thầy Chu. – Cô hỏi, cố giữ giọng bình thường. – Thư thầy gửi, thầy gửi qua đường nào?
Chu Minh Viễn hơi ngạc nhiên.
– Gửi qua bưu điện công xã, rồi bưu tá chuyển xuống đội. Sao thế?
Bưu điện công xã. Rồi bưu tá chuyển xuống đội. Rồi từ đội, ai mang đến nhà họ Thẩm?
Tô Niệm chưa kịp hỏi thêm thì đội trưởng Tôn đã quay lại, cười khà khà:
– Thôi, thầy Chu ở lại chơi, tôi đưa con bé này về. Mai rằm, thầy có rảnh thì sang nhà tôi uống chén rượu.
– Nhất định rồi. – Chu Minh Viễn mỉm cười, nhưng khi Tô Niệm quay người đi, cô vẫn cảm nhận được ánh mắt anh ta dõi theo mình.
Lo lắng. Cô quyết định gọi tên cái ánh mắt ấy là lo lắng.
* * *
Trên đường về, đội trưởng Tôn đi chậm lại, đợi mấy người kia đi trước một quãng, mới hắng giọng:
– Tú Vân này. Có chuyện này bác giữ trong bụng hai năm rồi, hôm nay thấy con giỏi giang thế, bác nói luôn.
– Bác cứ nói ạ.
– Hồi cha con mất, công xã họp, quyết định tiền tuất cho nhà con là hai trăm đồng. Bác ngồi trong cuộc họp ấy, bác nghe tận tai. – Ông thở dài. – Nhưng sau đó, bác nghe mẹ chồng con kể với người ta, nhà con chỉ nhận được có tám mươi đồng. Bác hỏi lên xã, người ta bảo số còn lại trừ vào tiền làm hỏng lò. Hỏng lò! – Ông nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống vệ đường. – Người chết rồi còn bắt đền cái lò!
Tô Niệm khựng bước.
Hai trăm đồng. Tám mươi đồng. Phần còn lại là một trăm hai mươi đồng.
Đúng bằng số tiền trong chiếc túi vải xanh dưới tấm phản giường.
– Bác ơi, – cô hỏi khẽ, – chuyện ấy, còn ai biết nữa không?
– Bác có kể với thầy Chu. Năm ngoái thầy về thôn họp phụ huynh, bác kể. Thầy ấy nghe xong, mặt tái đi, ghi chép cẩn thận lắm. – Đội trưởng Tôn lắc đầu. – Bác cũng chỉ biết kể thế thôi. Bác là đội trưởng, chứ có phải quan trên xã đâu.
Tô Niệm không nói gì nữa. Nhưng trong lòng cô, một mảnh ghép nữa vừa khớp vào chỗ.
Một trăm hai mươi đồng kia không phải tiền để bỏ trốn. Đó là tiền tuất của Lâm lão Tam, bị người ta ăn chặn, và có người đã đòi lại được.
Đội trưởng Tôn đưa cô về đến tận đầu ngõ nhà họ Thẩm rồi mới quay đi.
Tô Niệm không vào nhà ngay. Cô đi vòng ra phía sau, leo lên con dốc dẫn đến ruộng khoai. Dưới ánh trăng đã gần tròn, đống dây khoai bệnh mà cô nhổ bỏ hôm trước vẫn nằm chất đống ở góc ruộng, héo úa, bốc mùi chua hăng hắc.
Đây là chỗ mà không ai trong nhà họ Thẩm muốn đụng vào. Thẩm lão thái đã chửi nó là “đống rác phá của”. Quế Hoa thì bịt mũi mỗi khi đi qua.
Tô Niệm lấy cuốn sổ ra khỏi gùi, gói thêm một lớp vải dầu nữa, bỏ vào một cái bình sành nhỏ mà cô đã lấy từ trong bếp từ sáng, đậy nắp lại thật kín. Rồi cô dùng cuốc đào một cái hố dưới chân đống dây khoai, chôn chiếc bình xuống, lấp đất, phủ dây khoai lên trên như cũ.
Cô đứng thẳng dậy, nhìn quanh. Không có ai.
Cô làm thêm một việc nữa. Cô lấy lá thư của Lâm lão Tam ra, đọc lại một lần cuối dưới ánh trăng, rồi gấp nhỏ, khâu vào lớp lót áo, cạnh hai đồng tiền và mảnh giấy hẹn. Cuốn sổ là bằng chứng. Nhưng lá thư này là của Lâm Tú Vân, là của cha bà để lại cho bà. Cô muốn giữ nó bên mình.
Xong xuôi, cô mới vác cái gùi trống không, đi vòng ra cổng trước.
* * *
Ngay từ đầu ngõ, Tô Niệm đã nghe thấy tiếng cười nói rộn rã vọng ra từ nhà họ Thẩm.
Giữa sân, bên cạnh chiếc xe đạp Vĩnh Cửu cũ của Kiến Nghiệp, có dựng một chiếc xe đạp khác. Một chiếc Phượng Hoàng mới tinh, sơn đen bóng loáng, ghi đông mạ kền sáng choang dưới ánh trăng, chuông xe còn dán nguyên tem đỏ của cửa hàng bách hóa huyện. Ở thôn Thanh Khê năm 1983, cả thôn không có nổi hai chiếc xe như thế.
Đèn dầu trong gian chính đã được thắp sáng trưng, sáng hơn hẳn mọi tối, như thể người ta đã đổ đầy dầu vào bấc.
Tô Niệm bước qua cổng. Tiếng cười nói trong nhà chợt im bặt.
Ngồi ở vị trí chủ khách, chiếc ghế tựa duy nhất trong nhà, là một người đàn ông chừng bốn mươi lăm tuổi, người phốp pháp, bụng phệ, mặt tròn như cái mâm, nước da trắng hồng của người không phải dầm mưa dãi nắng. Ông ta mặc bộ quần áo đại cán màu xanh lam, túi áo trên cài hai cây bút máy. Trên bàn trước mặt ông ta bày một hộp bánh Trung thu bằng giấy đỏ in hoa vàng, hai chai rượu Thiệu Hưng và một gói đường trắng.
Thẩm lão thái ngồi bên cạnh, cười đến híp cả mắt, khuôn mặt nhăn nheo như được là phẳng. Kiến Nghiệp đứng hầu bên cạnh, tay cầm ấm trà, cúi người rót. Vương Quế Hoa thì đang bóc dở một chiếc bánh Trung thu, mắt sáng rực.
Chỉ có Thẩm Kiến Quốc là ngồi ở góc nhà, trên chiếc ghế đẩu thấp, lưng thẳng, khuôn mặt không biểu cảm, bàn tay quấn vải trắng đặt trên đầu gối.
Người đàn ông bụng phệ quay đầu nhìn ra cửa. Khi nhìn thấy Tô Niệm, đôi mắt nhỏ híp sau hai gò má phúng phính của ông ta khẽ nheo lại, như một con mèo nhìn thấy con chuột vừa bước vào bẫy.
Rồi ông ta cười, một nụ cười hiền hậu, phúc hậu như ông Địa trên bàn thờ.
– Ồ, đây chắc là chị dâu Kiến Quốc rồi. – Giọng ông ta trầm ấm, dễ nghe. – Nghe nói chị vừa đi đào thuốc về, bán được những sáu đồng bảy hào cơ đấy. Giỏi giang thật. Lão Tam ở dưới suối vàng mà biết, chắc cũng mát lòng mát dạ.
Tô Niệm đứng ở bậc cửa, chiếc gùi tre trống rỗng trên lưng, toàn thân lạnh buốt.
Sáu đồng bảy hào. Cô vừa nói con số ấy ở đầu thôn chưa đầy một tiếng đồng hồ trước. Ngoài đội trưởng Tôn và mấy người đi cùng, chỉ có một người khác nghe thấy.
Lại Tam đã về báo cáo rồi.
Lưu Đức Hải, chủ nhiệm lò gạch công xã Thanh Khê, nâng chén trà lên, nhấp một ngụm, rồi đặt xuống, mỉm cười nhìn cô.
– Chị dâu Kiến Quốc ngồi đi. Đứng mãi thế, mỏi chân. – Ông ta vỗ vỗ lên chiếc ghế đẩu trống bên cạnh mình. – Mai là rằm tháng Tám rồi, tôi mang ít bánh sang biếu cụ. Tiện thể, cũng có mấy câu muốn hỏi chị.