Canh tư, trời còn tối đen như mực, chợ Nam Thị đã lục tục sáng đèn.
Lâm Vãn Nhu khoác áo vải thô, tay xách giỏ tre, đi trước; Chu quản sự ôm túi bạc lẽo đẽo theo sau, vẻ mặt như người sắp ra pháp trường.
"Tiểu thư... mười lượng bạc này là gần hết gia sản rồi. Người tính mua những gì, để lão nô mặc cả cho, thương lái chợ này nhìn mặt người lạ là hét giá trên trời..."
"Chu bá cứ yên tâm." Lâm Vãn Nhu mỉm cười, mắt đã dán vào dãy sạp thịt phía xa. "Đi chợ, là sở trường của con."
Kiếp trước, nàng có một nguyên tắc bất di bất dịch suốt mười bốn năm làm bếp: đầu bếp không tự tay chọn nguyên liệu thì không xứng đứng bếp. Bốn giờ sáng ra chợ đầu mối là chuyện nàng làm nhiều hơn cả chuyện ngủ đủ giấc.
Nàng dừng chân trước sạp thịt bò lớn nhất chợ. Chủ sạp là một hán tử râu quai nón đang bổ thịt phầm phập, thấy khách là con gái trẻ thì cũng chẳng buồn ngẩng đầu: "Mua gì? Thăn lưng năm mươi văn một cân, nạm ba mươi văn."
Lâm Vãn Nhu không đáp. Nàng cúi xuống nhìn quầy, ngón tay ấn nhẹ lên tảng nạm bò, quan sát vết lõm đàn hồi trở lại, rồi cúi sát ngửi một hơi.
"Con bò này mổ từ hôm kia rồi." Nàng thẳng lưng dậy, giọng bình thản. "Thịt hôm kia mà bán giá thịt mổ đêm qua, chưởng quầy làm ăn kiểu này à?"
Hán tử khựng dao, ngẩng phắt lên: "Cô nương chớ nói bừa! Thịt của ta—"
"Màu thịt sẫm không đều, mặt cắt đã se khô, ấn vào vết lõm hồi chậm nửa nhịp, mùi ngọt của thịt tươi đã lẫn một tia chua rất mỏng." Nàng nói một mạch, không nhanh không chậm, "Chưa hỏng, om kỹ vẫn ăn được, nhưng nó không đáng ba mươi văn. Còn nữa —" nàng chỉ vào góc quầy, nơi chất một đống lộn xộn những thứ chẳng ai thèm ngó: xương ống, xương sống, đuôi bò, gân bò, "— đống kia, ngươi định bán cho ai?"
Hán tử ngớ ra: "Xương với gân á? Thứ đó ninh cả ngày cũng chẳng ra miếng thịt, thường là chiều bán rẻ cho mấy nhà nấu cám lợn, hai văn một cân, có hôm ế thì cho không..."
Chu quản sự đứng sau lưng thấy khóe môi tiểu thư nhà mình cong lên — nụ cười mà mấy ngày nay ông bắt đầu hiểu ra là có người sắp gặp chuyện — hoặc ngược lại, nhà họ Lâm sắp gặp may.
"Toàn bộ xương ống, đuôi bò, gân bò của sạp ngươi, ta bao hết, ba văn một cân — cao hơn giá cám lợn một văn. Không chỉ hôm nay: từ nay về sau, mỗi ngày có bao nhiêu ta lấy bấy nhiêu, ngươi giao đến Lâm Ký tửu lâu ở phố Nam trước giờ Mão. Còn tảng nạm hôm kia này, hai mươi văn, ta cũng lấy cả." Nàng gõ ngón tay lên mặt quầy. "Tiền trao tay mỗi sáng, một xu không nợ. Làm không?"
Hán tử tính nhẩm trong đầu: đống xương xẩu ế ẩm mỗi ngày vốn là của bỏ đi, giờ có người bao tiêu dài hạn, lại trả cao hơn giá cám lợn... Gã lập tức chùi tay vào tạp dề, cười toe: "Làm! Sao lại không làm! Cô nương cần bao nhiêu có bấy nhiêu! Ta còn quen hai sạp bò bên chợ Tây, cô nương cần thêm ta gom luôn cho!"
"Gom hết." Lâm Vãn Nhu gật đầu, "Nhớ cho: xương phải là xương mổ trong ngày, ta ngửi một cái là biết, đừng trộn hàng cũ."
"Không dám không dám! Nhìn cái mũi của cô nương, ta nào dám!"
Rời sạp thịt, Chu quản sự vẫn chưa hết ngơ ngác: "Tiểu thư, mình mua cả núi xương về... để làm gì? Món hầm của Lâm Ký ngày trước cũng chỉ dùng thịt, xương là thứ vứt đi mà..."
"Chu bá," Lâm Vãn Nhu vừa đi vừa chọn hành, gừng, tỏi, "cái người ta vứt đi, mới là thứ rẻ nhất. Mà nghề bếp, nói trắng ra, là nghề biến thứ rẻ nhất thành thứ ngon nhất. Toàn bộ linh hồn của một bát mì không nằm ở sợi mì, không nằm ở miếng thịt — nằm ở nước dùng. Mà nước dùng ngon nhất trần đời, lại ninh từ chính đống xương hai văn một cân kia."
Bà bán rau bên cạnh nghe lỏm, bĩu môi cười thầm: nước ninh xương thì ai chẳng biết, con bé này nói cứ như báu vật.
Bà không biết rằng, thứ Lâm Vãn Nhu gọi là "nước dùng" khác một trời một vực với nồi nước ninh xương của thời đại này: xương phải chần rửa sạch huyết trước để nước trong; phải nướng sơ xương và hành gừng trên than cho dậy mùi khét ngọt; phải ninh liu riu mười hai canh giờ liền không được sôi bùng; phải hớt bọt đúng ba lượt vào đúng ba thời điểm; và quan trọng nhất — thứ bí quyết mà cả Đại Ninh triều chưa ai từng nghĩ tới — phải rang tương đậu lên men cùng đại hồi, quế, thảo quả trong mỡ bò cho đến khi tất cả hòa thành một thứ sốt đỏ sậm, thơm đến mức quỷ thần cũng phải ngoái đầu.
Sốt vang.
Mười lượng bạc, cuối buổi chợ còn dư ba lượng. Đổi lại: hai trăm cân xương bò đặt giao mỗi ngày, bốn mươi cân nạm và gân, hai bao bột mì loại tốt, hành gừng tỏi ớt chất đầy một xe kéo, cùng một hũ tương đậu lên men ba năm mà nàng đào được ở sạp đồ khô trong góc chợ — bà chủ sạp bán rẻ như cho vì "thứ này mặn chát, mua về ai ăn".
Lâm Vãn Nhu ôm hũ tương như ôm vàng.
Ba ngày trước khai trương, Lâm Ký tửu lâu biến thành một công trường.
Cẩu Tử leo thang lau tấm biển hiệu đến bóng loáng. Xuân Đào giặt rèm, lau bàn ghế, kỳ cọ từng khe gạch tầng một. Chu quản sự đi mượn họ hàng thêm bát đũa. Còn gian bếp lớn phía sau — nơi nửa năm nay lạnh tanh — giờ đỏ lửa suốt ngày đêm.
Đêm đầu tiên, mùi xương nướng thơm lừng bay khắp hậu viện.
Đêm thứ hai, khi mẻ sốt vang đầu tiên xuống chảo — tương đậu gặp mỡ bò nóng già, "xèo" một tiếng vang như pháo — một cột hương thơm bùng lên, cuồn cuộn chui qua ống khói, tràn ra con phố Nam.
Chuyện gì xảy ra sau đó, nằm ngoài dự liệu của tất cả mọi người.
Nhà bên trái Lâm Ký là tiệm vải của Trương đại nương. Nửa đêm, Trương đại nương đang ngủ bỗng bật dậy, lay chồng: "Ông nó ơi... nhà ai nấu gì mà thơm thế... thơm quá thể..." Hai vợ chồng nằm chong mắt đến gà gáy, bụng réo òng ọc.
Nhà bên phải là tiệm thuốc. Ông chủ tiệm sáng ra mở cửa, việc đầu tiên là nghển cổ sang hỏi Cẩu Tử đang quét thềm: "Này nhóc! Đêm qua nhà ngươi nấu cái gì đấy?! Ta ngửi mà nước miếng ướt gối!"
Cẩu Tử — đã được tiểu thư dặn dò kỹ lưỡng — ưỡn ngực trả lời to rõ ràng, cốt cho cả phố nghe thấy:
"Bẩm, nhà cháu nấu MÌ BÒ SỐT VANG! Món do Thiện Nhân tổ sư báo mộng truyền riêng cho tiểu thư nhà cháu! Ngày kia khai trương, NĂM MƯƠI BÁT ĐẦU TIÊN KHÔNG LẤY TIỀN! Ăn thấy ngon thì trả, thấy dở thì thôi, Lâm Ký cháu không thu một văn!"
"Không lấy tiền?!" Ông chủ tiệm thuốc kinh ngạc. "Trên đời có chuyện tốt vậy?"
"Có chứ ạ! Nhưng chỉ NĂM MƯƠI bát đầu thôi! Đến muộn là hết suất!"
Đó chính là mũi tên thứ hai trong kế hoạch của Lâm Vãn Nhu. Nàng không dán cáo thị, không thuê người rao — nàng để chính mùi hương làm quảng cáo, và để sự tò mò cộng với lòng tham món hời của con người làm đôi chân đưa tin. Kiếp trước nàng đã thấy quá nhiều chiến dịch trăm triệu tiền quảng cáo thua một dòng "50 suất miễn phí" viết tay dán trước cửa.
Miễn phí, nhưng giới hạn. Cho không, nhưng phải nhanh chân. Con người ta có thể hờ hững với thứ cho không vô hạn, nhưng không bao giờ cưỡng nổi thứ cho không mà người khác có thể giành mất.
Quả nhiên, chỉ trong một ngày, tin "Lâm Ký sắp phát mì miễn phí, mùi thơm ba đêm liền làm cả phố Nam mất ngủ" đã chạy khắp mấy con phố, chui vào từng ngõ, leo lên từng bàn trà. Người ta thêm mắm dặm muối: nào là con gái nhà họ Lâm được tổ sư nhập mộng truyền nghề tiên, nào là mùi thơm ấy hít vào ba hơi khỏi được bệnh chán cơm...
Đến tai Vạn Bảo Lâu bên kia đường, câu chuyện chỉ khiến Tiền Phú cười gập bụng trong lúc nhắm rượu: "Phát chẩn! Ha ha, sắp chết đói đến nơi còn học người ta phát chẩn! Được được, để nó phát! Phát hết mười tám lượng cuối cùng thì khỏi cần đợi ba mươi ngày!"
Ngày khai trương. Giờ Mão ba khắc, trời mới tang tảng sáng.
Trước cửa Lâm Ký đã có người xếp hàng.
Người đầu tiên là ông chủ tiệm thuốc — ôm theo cả ghế đẩu, ngồi từ canh năm. Sau ông là vợ chồng Trương đại nương. Sau nữa là phu khuân vác, học trò, bà nội trợ, ông đồ già... Đến giờ Thìn, hàng người đã vòng qua khúc quanh đầu phố, và vẫn đang dài ra.
Xuân Đào từ khe cửa nhìn ra, chân run lập cập: "Tiểu thư ơi... đông... đông quá... hình như hơn hai trăm người rồi... mà mình chỉ có năm mươi bát miễn phí..."
"Đúng như dự tính." Lâm Vãn Nhu đứng trong bếp, bình thản buộc lại tạp dề, tóc vấn gọn, tay áo xắn cao. Ba nồi nước dùng khổng lồ sau lưng nàng sôi liu riu suốt mười hai canh giờ, mặt nước trong veo màu hổ phách, mùi thơm đặc quánh đến độ như có thể múc ra được. "Cẩu Tử, ra đọc thông báo như ta dặn."
Cẩu Tử hít một hơi đầy lồng ngực, mở toang cửa lớn, leo lên ghế cao, dõng dạc:
"KÍNH THƯA BÀ CON! Lâm Ký khai trương! Năm mươi vị đầu tiên: MIỄN PHÍ, ăn xong thấy không ngon còn được nhận một văn tiền trà nước coi như Lâm Ký xin lỗi vì làm mất thời gian của quý khách!"
Đám đông "ồ" lên. Ăn dở còn được đền tiền?!
"Từ vị thứ năm mươi mốt trở đi: mỗi bát MƯỜI VĂN—"
Đám đông lại "ồ" lên lượt nữa, lần này là kinh ngạc kiểu khác. Mười văn?! Một bát mì có thịt bò ở Vạn Bảo Lâu giá ba mươi văn! Mười văn chỉ mua nổi bát mì suông chan nước muối ở gánh vỉa hè!
"—NHƯNG!" Cẩu Tử giơ cao một ngón tay, y hệt điệu bộ tiểu thư đã dạy đi dạy lại, "Hôm nay Lâm Ký chỉ bán đúng BA TRĂM bát! Hết ba trăm bát, xin hẹn quý khách ngày mai! Ai muốn ăn, mời lấy thẻ tre xếp hàng, mỗi người tối đa hai bát!"
Giới hạn số lượng. Giới hạn suất mua. Đến cả câu "hết hàng xin hẹn ngày mai" cũng là một cái móc câu bọc đường.
Giờ Thìn ba khắc, Lâm Vãn Nhu tự tay bưng bát mì đầu tiên đặt xuống trước mặt ông chủ tiệm thuốc.
Cả trăm cặp mắt đổ dồn vào cái bát sứ trắng ấy.
Nước dùng đỏ nâu sóng sánh, trong mà đậm, nổi váng mỡ vàng óng như sao sa. Sợi mì kéo tay trắng ngà uốn mình dưới làn nước. Sáu miếng nạm bò om cắt dày nửa đốt tay xếp thành bông hoa, miếng nào miếng nấy rệu xuống vì mềm, vân gân trong suốt như hổ phách. Trên cùng là nhúm hành hoa xanh ngắt và một thìa sa tế đỏ tươi óng ánh.
Ông chủ tiệm thuốc nuốt nước bọt, run run gắp miếng thịt đầu tiên.
Miếng thịt vừa chạm lưỡi... ông khựng lại.
Rồi cả con phố nhìn thấy ông già sáu mươi tuổi ấy nhắm nghiền mắt, ngửa cổ lên trời, râu rung rung, phát ra một tiếng rên dài như trút cả đời phiền muộn:
"Trời... đất... ơi..."
Miếng nạm om mười hai canh giờ tan ra trong miệng ông theo đúng nghĩa đen — không cần nhai, chỉ cần lưỡi ép nhẹ, thớ thịt rã thành từng sợi ngọt lịm, gân trong veo dẻo quánh, vị sốt vang thấm vào tận lõi: mặn, ngọt, thơm mùi quế hồi, cay dịu ở hậu vị, tầng tầng lớp lớp nối nhau không dứt. Ông húp một ngụm nước dùng — ngụm nước ấy trôi đến đâu, ấm đến đó, cái vị ngọt không phải của đường mà ông không gọi được tên (Lâm Vãn Nhu gọi nó là umami) bùng lên chiếm trọn khoang miệng.
Ông chủ tiệm thuốc mở mắt, việc đầu tiên là chộp lấy tay Cẩu Tử:
"Bát này ta trả tiền! Không những trả, ta trả BA MƯƠI văn! Và cho ta thêm bát nữa! Không, gói thêm hai phần mang về cho bà nhà ta! Được gói mang về không?!"
Đó là phát pháo hiệu.
Người thứ hai, thứ ba, thứ mười... bát nào bưng ra cũng đổi lại những tiếng hít hà, những tiếng "chao ôi" và tiếng húp nước dùng soàn soạt vang cả gian sảnh. Có bà cụ ăn xong ngồi thừ ra, nói bát mì này làm bà nhớ lại cái Tết no đủ nhất đời mình. Có anh phu khuân vác ăn hai bát liền, đứng dậy tuyên bố với cả hàng người: "Từ mai tiền công của ta để ở đây hết!"
Năm mươi bát miễn phí hết veo trong nửa canh giờ — và bốn mươi chín người trong số đó tự nguyện trả tiền, người ít trả mười văn, người nhiều dúi hẳn năm mươi văn "thưởng cho tổ sư". Người duy nhất không trả là một cậu bé ăn mày, được Lâm Vãn Nhu xua tay bảo Xuân Đào múc thêm cho miếng thịt.
Hàng người phía sau nhìn cảnh ấy, ai còn dám bỏ về? Mười văn một bát mì thần tiên thế kia, không ăn mới là kẻ ngốc! Tiếng lành đồn xa, người qua đường thấy đám đông thì tò mò nhập hàng, người ăn xong chạy về gọi cả nhà ra ăn. Chưa đến giờ Ngọ, ba trăm thẻ tre phát hết sạch. Những người đến muộn đấm ngực dậm chân, có kẻ trả gấp đôi hỏi mua lại thẻ của người xếp trước — trước cửa Lâm Ký, thẻ tre ăn mì nghiễm nhiên trở thành món hàng có giá.
Trong bếp, Lâm Vãn Nhu múc nước dùng không ngơi tay, mồ hôi ướt đẫm lưng áo, nhưng ánh mắt sáng rực. Chu quản sự ôm hộp tiền, tay run run đếm đi đếm lại: sáng nay thu về đã hơn bốn lượng bạc — bằng doanh thu nửa tháng của Lâm Ký thời còn thịnh.
Và giữa lúc cả tầng một đang sôi sùng sục như nồi nước dùng ấy, Xuân Đào chạy vào bếp, mặt là lạ:
"Tiểu thư, có một vị khách... kỳ quái lắm ạ."
Vị khách ấy đến vào giữa giờ Ngọ, lúc quán đông nhất.
Một người đàn ông áo đen, thân hình cao lớn, đi cùng một tùy tùng mặt lạnh như tiền. Hắn dừng ở cửa, nhìn gian sảnh ồn ào chật kín người, hơi cau mày — cái cau mày của người ghét ồn ào đến tận xương tủy — nhưng không quay đi, mà buông một câu ngắn gọn:
"Lầu hai."
Cẩu Tử gãi đầu: "Vị khách quan này, lầu hai chưa dọn dẹp, chưa mở tiếp khách ạ, mời ngài—"
Tùy tùng phía sau lẳng lặng đặt lên quầy một thỏi bạc.
Nguyên một thỏi. Mười lượng. Đủ mua một nghìn bát mì.
"Lầu hai." Người áo đen lặp lại, không thừa một chữ.
Cẩu Tử ba chân bốn cẳng chạy vào bếp bẩm báo. Lâm Vãn Nhu lau tay, đích thân bưng bát mì lên lầu hai — khách trả mười lượng để được ngồi một mình, nàng ít nhất phải đích thân xem đó là thần thánh phương nào.
Lầu hai vắng lặng, bụi đã được lau qua nhưng bàn ghế còn xếp dồn một góc. Người đàn ông áo đen ngồi bên chiếc bàn duy nhất cạnh cửa sổ, nơi có thể nhìn xuống cả con phố. Nghe tiếng bước chân, hắn quay đầu lại.
Lâm Vãn Nhu khựng lại nửa nhịp.
Đẹp. Là ý nghĩ đầu tiên. Không phải cái đẹp mềm mại của công tử phấn son, mà là thứ đẹp sắc lạnh như núi tuyết: sống mũi thẳng, quai hàm gọn, làn da trắng nhợt kiểu người quanh năm thiếu ăn thiếu ngủ, và một đôi mắt — đen thẳm, tĩnh lặng, sâu không thấy đáy, nhìn người như nhìn thấu.
Ý nghĩ thứ hai của nàng, rất nghề nghiệp: người này có vấn đề về ăn uống. Sắc mặt kia, dáng gầy kia, đường môi mím kia — kiếp trước nàng từng nấu cho không ít khách VIP chán ăn kinh niên, nhìn một cái là nhận ra.
"Khách quan." Nàng đặt bát mì xuống, "Mì bò sốt vang của Lâm Ký. Mời ngài."
Người đàn ông nhìn bát mì, rồi ngẩng lên nhìn nàng. Giọng hắn trầm, mang theo chút gì như thăm dò:
"Nghe nói, ăn không ngon... được đền một văn tiền?"
"Đúng vậy."
"Nếu ta nói không ngon?"
"Thì Lâm Ký xin đền ngài một văn." Lâm Vãn Nhu mỉm cười, thản nhiên tiếp, "Nhưng khách quan sẽ không nói vậy."
Hắn nhướn mày: "Ồ? Cô nương tự tin thế?"
"Không phải tự tin." Nàng nhìn thẳng vào mắt hắn, "Là vì ta biết ngài đã ba ngày nay ăn không quá ba đũa mỗi bữa. Người như ngài, thứ khó nhất không phải là chê món ăn dở — mà là thừa nhận mình... đang đói."
Không khí lặng đi một khắc.
Tùy tùng đứng sau lưng chủ tử tay đã đặt lên chuôi kiếm — dám nói trúng tình trạng của Vương gia, con bé này là gián điệp phương nào?! Nhưng người đàn ông áo đen chỉ khẽ nhấc tay ngăn lại. Trong đôi mắt tĩnh như mặt hồ đóng băng của hắn, lần đầu tiên gợn lên một tia gì đó — kinh ngạc, và hứng thú.
"Dựa vào đâu?"
"Dựa vào nghề." Lâm Vãn Nhu chỉ vào bát mì đang bốc khói, "Sắc mặt ngài thiếu huyết sắc, môi khô, hõm thái dương trũng — là dạ dày trống lâu ngày. Nhưng ngài ngồi thẳng, mắt sáng, tay ổn — nghĩa là không phải không đói, mà là ăn không nổi. Đồ ăn với ngài từ lâu đã chỉ còn là nhiệm vụ, đúng không? Nuốt như nuốt thuốc."
Nàng đẩy bát mì tới trước một chút, giọng bỗng dịu xuống, như đang dỗ:
"Vậy nên đừng coi nó là bữa cơm. Coi như... nếm thử một thứ ngài chưa từng gặp. Chỉ một đũa. Không nổi một đũa, một văn tiền của ngài, ta thân tự bưng đến tận bàn."
Người đàn ông nhìn nàng hồi lâu. Rồi hắn cầm đũa.
Một đũa mì, vài sợi, cuốn theo làn nước dùng đỏ nâu, đưa lên môi.
Tùy tùng phía sau nín thở. Gã theo hầu chủ tử tám năm, chứng kiến ngự thiện phòng đổi bảy đời chưởng án, chứng kiến thái y viện kê không biết bao thang thuốc kiện tỳ khai vị, chứng kiến chủ tử ngồi trước sơn hào hải vị mà ánh mắt nguội lạnh như nhìn gỗ đá...
Người đàn ông nuốt xong đũa mì đầu tiên. Dừng lại. Nhìn bát mì một cái.
Rồi gắp đũa thứ hai.
Đũa thứ ba. Một miếng thịt. Một ngụm nước dùng.
Hắn ăn không nhanh, động tác vẫn tao nhã lạnh lùng như cũ — nhưng đũa không dừng lại nữa. Gian lầu hai chỉ còn tiếng khe khẽ của đũa chạm bát, và tiếng ồn ào ấm áp từ tầng một vọng lên. Nắng trưa xiên qua ô cửa, rơi trên bàn, trên làn khói mỏng bốc lên từ bát mì đang vơi dần.
Tùy tùng đứng sau, mắt đỏ hoe lúc nào không hay.
Khi trong bát chỉ còn lại một ít nước dùng, người đàn ông đặt đũa, lấy khăn chấm môi, ngẩng lên. Lâm Vãn Nhu vẫn đứng đó, khoanh tay tựa cột, cười cười:
"Sao? Một văn tiền, ta có cần mang lên không?"
Hắn không đáp thẳng. Hắn hỏi một câu khác:
"Quán này... mỗi ngày đều mở?"
"Mỗi ngày. Nhưng chỉ bán ba trăm bát, hết là đóng."
"Lầu hai này, ta bao tháng." Hắn đứng dậy, chỉnh tay áo, bổ sung, "Chỉ cái bàn này. Giờ Ngọ mỗi ngày. Không cần ai hầu, mì bưng lên là được."
Nói xong hắn đi thẳng xuống lầu, áo đen lướt qua nàng, để lại một câu cuối cùng trôi theo bước chân:
"Bát mì này... không đáng mười văn."
Lâm Vãn Nhu: "?"
"Đáng một trăm." Bóng người đã khuất sau cầu thang. "Đừng bán rẻ thứ mình làm ra, Lâm chưởng quỹ."
Lâm Vãn Nhu đứng ngẩn tại chỗ, rồi bật cười, lắc đầu thu dọn bát đũa. Khách kỳ quặc thì nàng gặp nhiều, nhưng kỳ quặc mà... sảng khoái thế này thì hiếm. Nàng liếc cái bát đã cạn trơn — với một người "ăn không nổi", cái bát sạch trơn này đáng giá hơn vạn lời khen.
Nàng không nhìn thấy, người đàn ông áo đen ra đến cửa thì dừng chân, ngoái nhìn tấm biển "Lâm Ký Tửu Lâu" mới lau bóng loáng. Tùy tùng bên cạnh nghẹn ngào: "Vương gia, thuộc hạ... thuộc hạ phải báo tin vui này về phủ, Trần ma ma mà biết ngài ăn hết nguyên một bát, bà ấy nhất định khóc mất..."
"Báo cái gì mà báo." Tiêu Cảnh Hàn liếc gã một cái, giọng vẫn lạnh nhưng vành tai thoáng đỏ. "Về phủ. À, khoan—"
Hắn dừng lại, nhìn hàng người vẫn rồng rắn trước quán, trầm ngâm hai giây, rồi nói bằng ngữ khí nghiêm túc như đang bàn quân cơ đại sự:
"Ngày mai, đến sớm hơn. Nghe nói... chỉ bán ba trăm bát."
Chiều hôm ấy, khi tấm bảng gỗ "Đã hết mì hôm nay — Mời quý khách ghé lại ngày mai, giờ Thìn" được treo lên, cả con phố Nam vẫn còn xôn xao chưa dứt. Người ăn được rồi thì đi khắp nơi khoe khoang tường tận từng miếng thịt. Người chưa ăn được thì hậm hực hẹn nhau mai đến từ canh năm. Cái tên "mì bò sốt vang" cùng "Lâm Ký" theo chân mấy trăm thực khách tỏa đi khắp các ngả kinh thành như nước vỡ bờ.
Trong khi đó, ở tầng ba Vạn Bảo Lâu bên kia đường, Tiền Phú đứng bên cửa sổ, mặt không còn cười nổi nữa.
Gã đã đứng đây nguyên một canh giờ, nhìn hàng người dài dằng dặc trước cái tửu lâu "sắp chết" ấy, nhìn khách của Vạn Bảo Lâu — khách của gã — ăn xong bên này lại tò mò kéo sang bên kia xếp hàng, nhìn cả mấy vị khách quen sang trọng bước xuống kiệu đi thẳng vào Lâm Ký không thèm liếc Vạn Bảo Lâu lấy nửa cái.
"Quản sự," tên hầu bên cạnh lấm lét, "trưa nay bên mình... vắng đi ba thành khách. Đầu bếp Đình sư phụ sai người sang mua một bát về nếm thử, nếm xong ông ấy ngồi thừ nửa canh giờ, nói... nói nước dùng này ông ấy không biết nấu. Không phải không ngon bằng — là không biết đường nào mà nấu."
Tiền Phú bóp nát hạt dưa trong tay.
Con nhãi họ Lâm ấy... ba ngày trước còn là con nợ sắp phá sản mà gã có thể bóp chết bằng hai ngón tay. Ba ngày sau đã dám... dám thò tay móc túi khách của Vạn Bảo Lâu, ngay trước mắt gã?
"Đi," gã nghiến răng xoay người, "chuẩn bị xe. Ta phải về tổng lâu bẩm báo đại chưởng quỹ. Còn nữa —" mắt gã lóe lên âm trầm, "— cho người dò xem, con nhãi đó mua thịt mua xương ở sạp nào, mối nào. Nước dùng có thần thánh đến đâu... không có xương thịt, xem nó ninh bằng gì."
Gã không hề biết, chiếc xe ngựa đen tuyền vừa lăn bánh khỏi phố Nam trước đó một khắc, bên trong, vị Vương gia quyền khuynh triều dã cũng vừa buông rèm, nói với thuộc hạ một câu nhàn nhạt:
"Vụ Hằng Thông tiền trang, điều tra nhanh thêm ba phần. Còn cái quán mì kia..."
Tiêu Cảnh Hàn nhắm mắt dựa vào thành xe, dạ dày ấm áp một cách xa lạ, khiến giọng hắn cũng nhuốm vẻ thư thả hiếm hoi:
"...không ai được động vào."